Thứ Hai, 18 tháng 3, 2013

Hội nghị tổng kết năm 2012 và kế hoạch năm 2013 của Hiệp hội Du lịch tỉnh




          Vào lúc 14 giờ ngày 06/3/2013, tại khách sạn Gia Huy, Hiệp hội Du lịch tỉnh Sóc Trăng đã tổ chức Hội nghị tổng kết năm 2012 và triển khai kế hoạch năm 2013.
          Đến dự có ông Lâm Vĩnh Phương – Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các thành viên trong BCH, BTT Hiệp hội Du lịch và hơn 30 đại biểu đại diện cho các doanh nghiêp kinh doanh dịch vụ du lịch, Trung tâm TTXTDL, phòng VHTT các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh.
          Ông Trịnh Công Lý, Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Hiệp hội đã báo cáo tình hình hoạt động Hội trong năm 2012 và triển khai phương hướng, kế hoạch năm 2013.
          Trong năm 2012, Hiệp hội Du lịch tỉnh đã tập hợp, kết nối các doanh nghiệp du lịch và dịch vụ trong tỉnh tham gia quảng bá, xúc tiến thương hiệu tại các hội chợ, hội thảo, phát hành các tờ rơi, tờ bướm để quảng bá, mở rộng thị trường, kết nối tuyến tour du lịch. Ban Chấp hành HHDL đã tập hợp ý kiến phản ánh, đề nghị về Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; UBND tỉnh, được lãnh đạo quan tâm giải quyết kịp thời. Từ đó, tạo thêm niềm tin cho các doanh nghiệp, nâng cao vai trò, vị trí của Hiệp hội Du lịch tỉnh.
          Bước sang năm 2013, Hiệp hội Du lịch tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động của Ban Chấp hành, mở rộng hoạt động đối ngoại, liên kết với các tỉnh trong khu vực ĐBSCL và các tỉnh, thành trong cả nước để phát triển loại hình du lịch trong tỉnh. Phát triển nguồn nhân lực cho hoạt động du lịch thông qua việc liên kết, phối hợp tổ chức mở các lớp nghiệp vụ: quản lý khách sạn vừa và nhỏ, lớp tập huấn phát triển du lịch nông thôn,... Tổ chức và tham gia các hoạt động, xây dựng các sản phẩm đặc thù của địa phương, doanh nghiệp để giới thiệu và quảng bá rộng rãi trong khu vực cả nước. Đặc biệt là chuẩn bị tốt kế hoạch tham gia các hoạt động phục vụ cho Festival Đua ghe Ngo lần thứ I tỉnh Sóc Trăng tổ chức vào trung tuần tháng 10/2013 (âm lịch).
          Sau khi lắng nghe các ý kiến phát biểu, đóng góp của đại biểu, ông Lâm Vĩnh Phương - Phó Giám đốc Sở VHTTDL thay mặt Ban Giám đốc Sở đã biểu dương thành tích năm 2012 của HHDL, giải quyết các ý kiến đề xuất của hội viên và Ban Chấp hành HHD. Đ/c đã động viên, khuyến khích tất cả các thành viên Hiệp hội Du lịch tiếp tục cố gắng nâng cao và mở rộng hơn nữa chất lượng hoạt động để từ đó có thể góp phần thúc đẩy mạnh mẽ hơn sự phát triển về du lịch và kinh tế của tỉnh nhà./.

                                                                                                                                    Nguyễn Dũng


CHÙA SÊRÂY CRO SĂNG



Chùa Sêrây Cro Săng hay còn được gọi là chùa Cà Săng. Chùa tọa lạc tại phường 2, thị xã Vĩnh Châu cách trung tâm thành phố Sóc Trăng về hướng đông – nam khoảng 40km. Đây là một trong những ngôi chùa Khmer cổ ở tỉnh Sóc Trăng với quần thể kiến trúc hài hòa có niên đại trên 400 năm.
Chùa được xây dựng vào năm 1576, có diện tích 22.230m2. Tổng thể kiến trúc ngôi chùa bao gồm: chánh điện, sala, nhà ở cho các vị sư, trường dạy chữ Khmer, tháp để tro cốt người chết và lò hỏa táng,... Từ lúc hình thành đến nay chùa đã trải qua 10 đời trụ trì, trong đó Hòa thượng Lekkhanathê trụ trì chùa lâu nhất với thời gian 52 năm.
Cổng chùa Sêrây Cro Săng là một công trình kiến trúc được xây dựng bằng bê tông màu đỏ thẩm, bên dưới cổng gồm 2 cột trụ nền vuông có tác dụng chống đỡ cho phần mái tháp. Phần cổng vòm phía trên bao gồm 03 ngọn tháp được đắp nổi họa tiết hoa văn Khmer. Trên đó có ghi tên chùa Sêrây Cro Săng bằng tiếng Khmer với nét chữ màu đỏ được đắp nổi trông rất đẹp mắt.
Chánh điện chùa quay mặt về hướng Đông, theo quan niệm của người Khmer, Phật ở phương Tây quay mặt sang hướng Đông để ban phước cho dân nên chùa phải xây theo hướng Đông để hợp với hướng thờ Phật Thích Ca trong chánh điện.
Ngôi chánh điện của chùa Sêrây Cro Săng hiện nay được xây dựng lại vào năm 2005 dưới thời trụ trì của Hòa thượng Lý Thi, chánh điện xây dựng trên hai cấp nền cao hơn hẳn các công trình khác trong khuôn viên chùa. Giữa mỗi cạnh đều có một vị Phật ngồi tọa thiền quay về 4 hướng với ý muốn: Phật pháp lan tỏa và thấm nhuần khắp 4 phương. Quanh cấp nền của chánh điện đều có hàng rào bao bọc và có lối cầu thang đi lên nơi thờ Phật ở mỗi cạnh của chánh điện.
Kết cấu mái ngôi chánh điện là một kết cấu đặc biệt gồm 05 ngọn tháp, bao gồm 4 ngọn tháp nằm ở 4 cạnh tương xứng với vị trí của 4 vị phật ngồi tọa thiền phía dưới. Mỗi tháp có chiều cao khoảng 5m và đáy rộng 3m, riêng ngọn tháp trung tâm nằm giữa chánh điện cao khoảng 7m và rộng 5m. Chính sự đặc biệt này đã khiến cho mái chính điện trở nên đồ sộ, song không vì thế mà mất đi vẻ thanh thoát, nhẹ nhàng. Trên từng cấp mái đều được trang trí hình rồng cách điệu trong văn hóa Khmer.
Bên trong chánh điện là một không gian rộng để thờ Phật Thích Ca và nhiều tượng Phật khác nhau, mỗi tượng phản ánh một sự kiện quan trọng nhất định trong cuộc đời của đức Phật. Xung quanh tường bên trong và ngoài chánh điện đều được trang trí hình ảnh về cuộc đời của Phật Thích ca từ lúc sinh ra cho đến nhập cõi niết bàn.
Chùa Sêrây Cro Săng là một công trình nghệ thuật kiến trúc tôn giáo có giá trị thẩm mỹ thể hiện vốn đặc trưng văn hoá truyền thống Khmer Nam bộ nói chung và Sóc Trăng nói riêng. Ngôi chùa là sự tập hợp toàn vẹn các yếu tố tạo hình kết hợp chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau trong một thể thống nhất. Chùa vừa là trung tâm giáo dục văn hóa của đồng bào Khmer, vừa là điểm sinh hoạt văn hóa cộng đồng của cư dân địa phương.
Trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, đặc biệt là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chùa Sêrây Cro Săng vừa là cơ sở nuôi chứa những cán bộ hoạt động cách mạng, vừa là một trong những mũi nhọn cho các phong trào đấu tranh của đồng bào Khmer chống lại sự đàn áp của chính quyền tay sai thời Mỹ - Diệm cho đến khi cuộc đấu tranh cách mạng giải phóng miền Nam thành công ngày 30/4/1975.
Với ý nghĩa lịch sử đó, ngày 12/5/2004 chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng đã có quyết định số 655/QĐ.HT.04 công nhận chùa Sêrây Cro Săng là di tích lịch sử cách mạng cấp tỉnh, góp phần phát huy giá trị lịch sử địa phương trong sự nghiệp giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
Nguyễn Dũng
* Tài liệu tham khảo:
1/ Lý lịch di tích lịch sử - văn hóa chùa Sêrây Cro Săng (Bảo tàng tỉnh Sóc Trăng, 11/2003).
2/ Tài liệu ghi chép lại của chùa Sêrây Cro Săng.




Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2013

10 sự kiện Văn hóa, Thể thao và Du lịch năm 2012



Vừa qua, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chính thức công bố 10 sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch nổi bật năm 2012, bao gồm;
1. “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” được UNESCO vinh danh vào Danh sách các di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
2. “Mộc bản Chùa Vĩnh Nghiêm” (Bắc Giang) là Di sản tư liệu ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
3. Khánh thành Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên tại Gia Lai và tổ chức thành công các hoạt động kỷ niệm cấp quốc gia.
4. Việt Nam giành quyền đăng cai ASIAD 18 năm 2019.
5. Các hoạt động nhân Năm hữu nghị Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia, Việt Nam - Hàn Quốc, Việt Nam - Ấn Độ và Giao lưu văn hóa -nghệ thuật các tỉnh biên giới Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia.
6. Lễ công bố Vịnh Hạ Long là một trong bảy Kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới.
7. Du lịch Việt Nam đón 6,847 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 32,5 triệu lượt khách nội địa và Năm Du lịch quốc gia Duyên hải Bắc Trung Bộ-Huế 2012.
8. Trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật lần thứ IV, Giải thưởng Nhà nước về văn học, nghệ thuật lần thứ III, Danh hiệu nghệ sỹ nhân dân, nghệ sỹ ưu tú lần thứ VII.
9. Thành công của thể dục, thể thao Việt Nam trên đấu trường quốc tế: 18 vận động viên chính thức tham dự Olympic 2012, 11 vận động viên tham dự Paralympic 2012, 271 huy chương vàng, 234 huy chương bạc và 154 huy chương đồng tại các giải thể thao quốc tế.
10. Ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch vùng đồng bào dân tộc Chăm - Ninh Thuận năm 2012 và khánh thành cụm tháp Chăm tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam
          Việc công bố 10 sự kiện Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhằm nêu lên sự phát triển của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch qua các thời kỳ, vượt qua bao khó khăn thách thức để trở thành một ngành, một bộ phận quan trọng của Việt Nam./.
Nguyễn Dũng

Các hoạt động văn hóa, thể thao mừng Đảng, mừng xuân Quý Tỵ năm 2013



          Năm cũ qua đi, năm mới lại đến, không khí mùa Xuân lan tỏa khắp các phố phường của Sóc Trăng nói riêng và cả nước nói chung. Trong không khí se lạnh buổi sớm mai hòa lẫn với những tia nắng ấm áp, đường phố tấp nập người qua lại, khuôn mặt tràn đầy sự phấn khởi và náo nức chào đón năm mới “Quý Tỵ”, một năm hứa hẹn có nhiều chuyển biến tích cực trên các lĩnh vực đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh.
          Nhằm tạo thêm không khí vui tươi, mừng Đảng quang vinh, mừng xuân thịnh vượng trên tinh thần tiết kiệm, đầm ấm mừng tỉnh nhà đạt được các chỉ tiêu văn hóa, kinh tế, xã hội đã đề ra và tiếp tục phấn đấu gặt hái được nhiều thành tựu trong năm mới. Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Sóc Trăng đã có công văn số 1779/KH.SVHTTDL, ngày 28/12/2012 về việc tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao “Mừng Đảng, Mừng Xuân Quý Tỵ 2013” với các nội dung sau:
Trung tâm Văn hóa tỉnh sẽ tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ tại Công viên 30/4, Quảng trường Bạch Đằng và các huyện, thị xã từ ngày 31/1 – 09/2/2013, song song là chương trình văn nghệ phục vụ địa bàn cơ sở (vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc), tổ chức văn nghệ phục vụ Giao thừa tại Công viên 30/4 (kết hợp bắn pháo hoa); vẽ mới 04 bảng pano lưu động “Mừng Đảng quang vinh – Mừng xuân Quý Tỵ năm 2013” và 02 cụm pano Trà Tim, Ranh hạt Đại Hải; triển lãm bộ ảnh “Thành tựu kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng năm 2012” từ ngày 05/2 – 19/2/2013 tại Quảng trường Bạch Đằng.
Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu TDTT sẽ tổ chức Hội diễn Lân, Võ thuật, Thể dục dưỡng sinh mừng Đảng, mừng Xuân và hưởng ứng cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” tại Quảng trường Bạch Đằng từ ngày 08/2 – 09/2/2013.
Tại Trung tâm Văn hóa triển lãm Hồ Nước Ngọt tổ chức Hội “Hoa Xuân” với khoảng 100 gian hàng trưng bày và bán nhiều loại hoa, cây cảnh, bonsai,… để đáp ứng cho nhu cầu mua sắm, thưởng ngoạn của người dân và du khách gần xa khi đến thành phố Sóc Trăng.
Đoàn nghệ Thuật Khmer tổ chức biểu diễn nghệ thuật phục vụ đồng bào, chiến sỹ vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng trong dịp kỷ niệm 83 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/2/1930 – 03/2/2013) và mừng Xuân Quý Tỵ năm 2013.
Bảo Tàng tỉnh tổ chức triển lãm trưng bày một số chuyên đề về Đảng, Bác Hồ và sự nghiệp đấu tranh cách mạng của tỉnh qua các thời kỳ; đồng thời chỉ đạo Nhà truyền thống các huyện, thị xã, thành phố chấn chỉnh lại các phòng trưng bày, mở cửa thường xuyên nhằm thu hút nhân dân đến tham quan.
Thư viện tỉnh sẽ phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Hội Báo Xuân Quý Tỵ năm 2013 “Mừng Đảng, Mừng Xuân”; phối hợp với Phòng Văn hóa và Thông tin các huyện, thị xã, thành phố chỉ đạo các Thư viện huyện, thị xã, thành phố và các thư viện công cộng, phòng đọc sách, tủ sách trên địa bàn tỉnh phục vụ bạn đọc trước, trong và sau tết.

Ở Phòng Văn hóa và Thông tin các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh cũng đồng loạt tổ chức các chương trình văn nghệ, tuyên truyền cổ động, trưng bày – triển lãm thành tựu kinh tế - văn hóa – xã hội của địa phương, phối hợp tổ chức và tham gia liên hoan, hội diễn, hội thao tạo không khí vui tươi phục vụ nhân dân địa phương, đồng bào dân tộc vui xuân mới.
Mừng Xuân Quý Tỵ 2013, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa, nhằm kịp thời ngăn ngừa và xử lý các hiện tượng tiêu cực, giữ gìn môi trường văn hóa lành mạnh trong dịp tết Nguyên đáng cổ truyền của dân tộc.
                                                Nguyễn Dũng

Thưởng thức các món ngon từ vùng cù lao sông nước Sóc Trăng




Là vùng sông nước thuộc tỉnh Sóc Trăng, huyện Cù Lao Dung nằm giữa hai cửa biển Trần Đề và Định An của dòng sông Hậu, xung quanh được bao bọc bởi cánh rừng bần phòng hộ có diện tích khoảng 1200 ha. Đến tham quan vùng đất Cù Lao Dung, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng nét đẹp hoang sơ của thiên nhiên mà còn được thưởng thức những món ăn đặc sản dân dã mang đậm hương vị phù sa mà ít nơi nào có được.
Cá bống sao – cá thòi lòi
Cá bống sao là một trong những đặc sản của vùng đất Cù Lao Dung, cá bống sao có lốm đốm xanh, da lấm tấm những chấm trắng li ti. Thịt cá bống sao màu hồng, dai và săn chắc. Món được chế biến từ loại cá này được nhiều người ưa thích nhất là kho tiêu, kho khô hay “kho chồn”. Cá bống sao “kho chồn” ngon là nhờ lá gan của nó lớn gần bằng bụng. Vị đắng, bùi của gan cá, cộng với mùi cay, nồng của sả, ớt tạo nên hương vị khó quên. Ngoài ra, nếu có điều kiện du khách cũng nên dùng thử món cá thòi lòi nướng trui. Thòi lòi là loại cá cùng họ với cá bống sao nhưng sống trong môi trường lưỡng cư, thịt cá dai, ngọt. Thòi lòi nướng trui được chế biến tương tự như cá lóc nướng trui và được dùng với rau sống, chuối chát chấm với nước mắm chua dầm bần chín cây.
Cá ngát
Canh chua cá ngát nấu bần là món ăn đặc trưng của vùng sông nước. Nguyên liệu đặc trưng dùng để nấu là trái bần chín cây. Bần chín cây dùng chày nhỏ đâm nát, lọc lấy nước cốt. Đợi cho nồi nước thật sôi, thịt cá vừa chín cho nước bần vào và thêm gia vị và các phụ liệu nhằm tăng sự kích thích vị giác như rau thơm, sả, ớt, cà chua,… Cá ngát nên ướp tỏi chiên sơ qua cá trước khi nấu để tạo độ dai, thơn ngon, không bị nát và tăng thêm hương vị. Canh chua bần cá ngát ngon nhất khi còn bốc khói, ăn kèm với bún và các loại rau vườn sẵn có. Chính mùi thơm, béo ngọt của cá với hương vị của bần, tạo nên mùi vị đậm đà khó quên của món ăn này.
Cá bông lau
Từ lâu các món ăn được chế biến từ cá bông lau đã trở thành món ngon đặc sản, tạo nên phong vị ẩm thực rất riêng của vùng cù lao sông nước. Bông lau là loài cá da trơn, hình dáng thon, dài, da trắng mịn. Thịt cá bông lau trắng hồng, thơm ngon, không tanh nên được chế biến thành nhiều món ăn ngon. Đặc biệt, cá bông lau kho tộ là món được nhiều người ưa thích, ngon nhất là kho cá trong tộ bằng đất. Mùi cá hòa quyện với mùi tiêu, ớt, hành tạo thành mùi thơm hấp dẫn. Tộ cá kho sền sệt nước, khứa cá ửng màu vàng cánh gián óng ánh đẹp mắt, ăn kèm với xoài sống băm nhỏ thì thật tuyệt vời. Ngoài ra, cá bông lau còn được dùng để nấu canh chua, chiên tươi, hấp cũng rất ngon.
Các món ăn từ vùng cù lao sông nước không phải là những món ăn cao sang nhưng đó lại là những món ngon đặc trưng và dùng để đãi khách quý khi đến thăm vùng đồng bằng Nam bộ.
Nguyễn Dũng


Cá bông lau kho tộ
 
 

Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2013

Chương trình tour tham quan tại Sóc Trăng




Sóc Trăng là một vùng đất có nhiều điểm đến du lịch lý thú với những ngôi chùa mang kiến trúc độc đáo và những lễ hội văn hóa đặc sắc của ba dân tộc Kinh – Khmer – Hoa. Ngoài ra, Sóc Trăng còn là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử với những dấu ấn để lại qua các di tích, cùng cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp và những món ăn đặc sản dân dã mang đậm nét đặc trưng. Bên cạnh đó, tỉnh còn có nhiều dự án du lịch trọng điểm đang kêu gọi thu hút nhà đầu tư trong và ngoài nước.
          Để hiểu thêm về Sóc Trăng, du khách có thể tham khảo một số chương trình tour du lịch dưới đây:
          * Chương trình “City tour” (01 ngày):
          Du khách sẽ được tham quan và tìm hiểu 07 điểm đến trong nội ô thành phố Sóc Trăng và khu vực giáp ranh: Bảo tàng tỉnh Sóc Trăng, Nhà trưng bày Khu di tích lịch sử đón đoàn tù chính trị, Điểm dừng chân Tân Huê Viên, Phòng Trưng bày Văn hóa Khmer (buổi sáng); chùa Dơi, chùa La Hán, chùa Đất Sét (buổi chiều).
* Chương trình “Về với cội nguồn lịch sử” (01 ngày):
          Quý khách sẽ viếng thăm các điểm: Bảo tàng tỉnh Sóc Trăng, chùa Đất Sét, Nhà lưu niệm Bác sĩ Nông học Lương Định Của (buổi sáng); khảo sát về cửa sông Bassac, tìm hiểu thương cảng Bãi Xàu xưa, chùa Dơi, Điểm dừng chân Tân Huê Viên (buổi chiều).
          * Chương trình “Sóc Trăng điểm đến văn hóa – lịch sử” (2 ngày 1 đêm):
Theo tour này sẽ có các điểm đến: Bảo tàng tỉnh Sóc Trăng, Khu di tích Lịch sử đón đoàn từ Chính trị Côn Đảo, chùa Đất Sét, chùa Dơi, chùa La Hán, Điểm dừng chân Tân Huê Viên, thưởng thức chương trình văn nghệ do “Đoàn nghệ thuật Khmer” biểu diễn các loại hình sân khấu ca múa dân tộc và trích đoạn Dù-Kê (ngày 01). Vườn cò Tân Long, Chợ nổi Ngã Năm, Khu Căn cứ tỉnh ủy Rừng Tràm Mỹ Phước, chùa Kh’leang, Phòng trưng bày Văn hóa Khmer, chùa Chén Kiểu (ngày 02).
Thông qua 03 tour du lịch trên sẽ giúp cho du khách trải nghiệm và hiểu thêm về vùng đất, con người Sóc Trăng; về kiến trúc của từng ngôi chùa; về quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, về những nét văn hóa đặc sắc của ba dân tộc Kinh – Khmer – Hoa. Bên cạnh đó, du khách còn được thưởng thức các món ẩm thực đặc sản ngon và hấp dẫn như: bánh Pía, bánh cóng, bún nước lèo, cốm dẹp,...
Nguyễn Dũng









 

Lễ vinh danh và trao tặng Giải thưởng Du lịch Việt Nam 2011 (tin du lịch Xuân)



Ngày 8/12/2012, Lễ vinh danh và trao tặng “Giải thưởng Du lịch Việt Nam 2011” đã diễn ra tại Hà Nội. Đây là sự kiện do Tổng cục Du lịch và Hiệp hội Du lịch Việt Nam phối hợp tổ chức nhằm tôn vinh 52 doanh nghiệp đã có nhiều đóng góp tích cực cho thành công của ngành Du lịch trong năm 2011, bao gồm: 10 khách sạn 5 sao, 10 khách sạn 4 sao, 10 khách sạn 3 sao hàng đầu Việt Nam; 10 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nội địa, 10 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế hàng đầu Việt Nam; 02 resort hàng đầu Việt Nam.
Thay mặt lãnh đạo Bộ VHTTDL, Thứ trưởng Hồ Anh Tuấn ghi nhận và đánh giá cao những nỗ lực của các doanh nghiệp Du lịch Việt Nam đã phấn đấu vượt mọi khó khăn trong tình trạng suy thoái kinh tế toàn cầu để tạo nên thành công chung cho ngành Du lịch trong năm 2011. Việc vinh danh và trao tặng Giải thưởng doanh nghiệp Du lịch hàng đầu Việt Nam 2011 có ý nghĩa hết sức quan trọng, nhằm ghi nhận và biểu dương thành tích của doanh nghiệp du lịch; thúc đẩy phong trào thi đua, lao động sáng tạo trong toàn ngành; nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp.
Trải qua 13 năm liên tục duy trì và phát triển, Giải thưởng Du lịch Việt Nam là danh hiệu cao quý nhất của ngành Du lịch. Bộ VHTTDL đã chú trọng đầu tư nâng cấp cả về chất lượng chương trình cũng như quy mô giải thưởng để phù hợp với tình hình phát triển của các doanh nghiệp Du lịch Việt Nam trong giai đoạn mới.
ND – http://www.vietnamtourism.gov.vn

Thứ Ba, 18 tháng 12, 2012

Hướng dẫn đoàn làm phim HTV7 thực hiện phóng sự quảng bá du lịch Sóc Trăng.




Ngày 6 – 7/10/2012, Đoàn làm phim của chương trình Năng động Du lịch Việt trên kênh HTV7 do ông Lê Bạch Đằng làm trưởng nhóm biên tập đã đến Sóc Trăng để thực hiện một số tin, bài, phóng sự quảng bá tiềm năng du lịch Sóc Trăng, các nội dung tập trung gồm:
- Giới thiệu 03 đặc sản Sóc Trăng lọt vào top danh sách món ăn, quà bánh nổi tiếng Việt Nam.
- Hướng thu hút khách du lịch tại các ngôi chùa Khmer Sóc Trăng.
- Bảo tồn và phát huy kiến trúc các ngôi chùa Khmer cổ ở Sóc Trăng.
- Phòng trưng bày Văn hóa Khmer Sóc Trăng: Nơi bảo tồn nét văn hóa cổ của người Khmer Nam Bộ.
          Theo kế hoạch của Đoàn, Trung tâm TTXTDL Sóc Trăng đã cử chuyên viên hỗ trợ Đoàn trong quá trình quay các cảnh phim để chuẩn bị và thực hiện cho các bản tin, phóng sự về du lịch Sóc Trăng tại một số điểm như: Chùa Dơi, chùa Chén Kiểu, chùa Kh’leang, Phòng Trưng bày Văn hóa Khmer, điểm dừng chân Tân Huê Viên, bánh cóng Đại Tâm, bún nước lèo Mỹ Xuyên.
          Đây là lần thứ hai đoàn làm phim của chương trình Năng động Du lịch Việt trên kênh HTV7 đến Sóc Trăng thực hiện ghi hình các bản tin, phóng sự. Điều này chứng tỏ rằng du lịch Sóc Trăng đang dần phát triển và thu hút được nhiều sự quan tâm từ các kênh truyền thông, chương trình truyền hình chuyên quảng bá, giới thiệu về các điểm đến du lịch.
          Hy vọng rằng với những tiềm năng và thế mạnh sẵn có, du lịch Sóc Trăng sẽ ngày càng phát triển ngang tầm với các tỉnh trong và ngoài khu vực, từ đó thu hút thêm nhiều du khách đến với Sóc Trăng./.  
            Nguyễn Dũng


Cá bống sao – Đặc sản Cù Lao Dung, Sóc Trăng



          Huyện Cù Lao Dung là một huyện cù lao dài khoảng 40km chạy dọc trên sông Hậu đổ ra biển, càng về cuối càng nở phình ra để tạo thành 02 cửa sông lớn: Trần Đề và Định An – những cửa ngõ chính đi vào vùng sông nước Tây Nam Bộ. Ấp Võ Thành Văn, xã An Thạnh Nam là ấp nằm cuối cùng của huyện Cù Lao Dung, tiếp giáp với biển Đông, nơi có diện tích rừng bần ngặp mặn ven biển lớn nhất huyện. Đồng thời, là dự án du lịch sinh thái đang được tỉnh Sóc Trăng kêu gọi đầu tư.
          Hệ thống rừng Bần phòng hộ của huyện là nơi sinh sống của rất nhiều loài đặc trưng cho hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển như: cá thòi lòi, cá bống sao, cua, ba khía, ốc,… Đây là nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào được người dân khai thác để duy trì cuộc sống hàng ngày. Cũng chính từ những nguyên liệu gần gũi đó mà cư dân vùng cù lao đã tạo ra những món ăn đặc sản dân dã mang đậm hương vị phù sa mà ít nơi nào có được. Trong đó, cá bống sao là món ăn được nhiều người ưa thích nhất.
          Da cá lấm tấm những chấm trắng li ti như những ngôi sao trên bầu trời, có lẽ vì thế mà người ta gọi là cá bống sao. Cá thường đào hang sinh sống tại những vùng đất bãi bồi ven sông, biển. Hang của chúng sâu trong bùn và có rất nhiều ngóc ngách.
          Thịt cá bống sao màu hồng, dai và săn chắc. Món được chế biến từ loại cá này được nhiều người ưa thích nhất là kho tiêu, kho khô hay “kho chồn”. Ngoài các gia vị thường dùng thì hai loại gia vị không thể thiếu khi kho cá là sả, ớt để khử mùi tanh, đồng thời tạo mùi thơm và tăng cường độ ngon của cá. Cá bống sao “kho chồn” ngon là nhờ lá gan của nó lớn gần bằng bụng. Vị đắng, bùi của gan cá, cộng với mùi cay, nồng của sả, ớt tạo nên hương vị khó quên.
Bên cạnh đặc sản cá bống sao, vùng đất Cù Lao Dung còn có nhiều món ăn đặc sản dân dã khác như: ba khía luộc chấm cơm mẻ, cá ngát hay cá bông lau nấu bần, vọp nướng mọi, ốc len xào dừa, cua biển hấp hành, cá kèo nướng muối ớt, cá chẻm nấu khoai môn, rắn nước, cá thòi lòi  nướng trui,…
            Cá bống sao là món ăn mang đậm nét dân dã của người dân Cù Lao Dung nói riêng và Nam Bộ nói chung. Tuy không phải là cao lương mỹ vị, nhưng những ai đã ăn thử một lần, có lẽ sẽ khó mà quên được cái hương vị đặc trưng ấy./.
Nguyễn Dũng


CHÙA TẦM VU


 
Chùa Tầm Vu, có tên gọi theo phiên dịch tiếng Khmer là Prêk Om Pu. Chùa toạ lạc ấp Hưng Thới, xã Thạnh Thới An, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Đây là một trong những ngôi chùa Khmer cổ ở tỉnh Sóc Trăng.
Theo tư liệu của chùa ghi lại, Chùa Tầm Vu được xây dựng từ năm 1664 bằng vật liệu tre, lá đơn sơ. Năm 1811 chùa dời đến địa điểm mới cách địa điểm cũ 500m. Đến năm 1954 được sự quan tâm của các cấp chính quyền cùng với sự đóng góp tiền của và công sức của bà con phum sóc nơi đây, Hòa thượng Châu Mum đã cho xây dựng lại ngôi chùa, nhưng do chiến tranh và kinh phí hạn hẹp nên mãi đến năm 1977 chùa mới khánh thành.
Chùa Tầm Vu có diện tích 33.961,9 m2. Tổng thể kiến trúc của ngôi chùa bao gồm: cổng chùa, đường nội bộ, sân, chánh điện, sala, nhà ở cho các vị sư, thư viện, trại để ghe ngo, lò thiêu, tháp để tro cốt, hàng cây cổ thụ xung quanh chùa,… Gần 350 năm hình thành và phát triển, Chùa Tầm Vu đã trải qua 15 đời trụ trì.
Chùa nằm dọc theo sông Hưng Thới, cổng chùa quay mặt ra hướng Bắc. Cổng có hai cột vuông đỡ lấy bảng tên chùa được làm bằng xi măng ở phía trên. Chính giữa cổng chùa đắp hình tượng hai vị sư đang đỡ một vòng tròn đặt trên một cái lư, vòng tròn này được mô phỏng theo bánh xe luân hồi của đạo Phật, có 8 cánh đại diện cho 8 hướng với ý muốn: Phật pháp lan toả và thấm nhuần khắp 8 phương. Bên dưới vòng tròn là dòng chữ đắp nổi ghi tên chùa bằng chữ Khmer Prêk Om Pu (Tầm Vu). Ngoài cửa chính của chùa còn có 2 cửa phụ. Cổng và hàng rào được trang trí bởi họa tiết hoa văn Khmer. Phía trên cổng chùa được điêu khắc trang trí hình tượng rồng quen thuộc như các chùa Khmer khác.
Bước qua cổng chùa, ta nhìn thấy mỗi bên là hai tháp để tro cốt, trong đó có tháp đựng tro cốt của Hoà thượng Châu Mum nằm phía bên phải tính từ cổng chùa vào, ông là một vị sư đã có công rất lớn trong hai cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ. Đi khoảng 20 mét là cột cờ nằm ở giữa khuôn viên chùa, phía bên trái cột cờ là ngôi chánh điện.
Chánh điện quay mặt về hướng Đông, theo quan niệm của người Khmer Phật ở phương Tây quay mặt sang hướng Đông để ban phước cho dân nên chùa phải xoay theo hướng Đông để hợp với hướng tượng thờ trong chánh điện. Ngôi chánh điện được xây dựng trên hai cấp, nền cao hơn hẳn các công trình kiến trúc khác trong khuôn viên chùa. Quanh cấp nền thấp của ngôi chánh điện đều có hàng rào bao bọc và có hai lối cầu thang đi lên nơi thờ Phật.
Chùa Tầm Vu là một công trình nghệ thuật kiến trúc có giá trị thẩm mỹ với quần thể nghệ thuật kiến trúc truyền thống Khmer Nam bộ nhưng có một số nét khác biệt với những ngôi chùa Khmer thông thường ở Đồng bằng Sông Cửu Long. Đó là ngôi chánh điện được xây theo kết cấu 2 tầng (một trệt, một lầu). Kết cấu mái ngôi chánh điện là một kết cấu đặc biệt gồm 03 ngọn tháp bằng nhau nằm dọc theo chiều dài chánh điện, chiều cao của mỗi tháp khoảng 5m, đáy rộng 3m.
Trước cổng đi vào tầng trệt có 5 cây cột. Trong tầng trệt không có trang trí hoa văn. Được xây dựng đơn sơ, chủ yếu là trụ cột để chống đỡ cho tầng trên của ngôi chánh điện. Bên trong tầng trệt có 6 hàng cột tròn (2 hàng cột nằm chính giữa mỗi hàng có 10 cột nằm theo hàng dọc, tương tự 4 hàng còn lại ở hai bên mỗi hàng có 8 cột). Bên trong đặt chiếc ghe Ngo độc mộc có từ năm 1962. Tầng trệt trước đây là nơi nuôi chứa cán bộ cách mạng và bà con phật tử mỗi khi giặc đàn áp, truy bắt những người tham gia cách mạng.
Ở tầng lầu mỗi bên chánh điện có 05 cửa sổ bằng gỗ rộng 1.2m x 1.6m và hai cửa ra vào rộng 1.2m x 2.4m. Trên mỗi cửa sổ và cửa ra vào đều có trang trí hoa văn khmer đắp nổi bằng xi măng. Bên trong chánh điện, nền được lát gạch bông, dọc theo chiều dài là hai hàng cột tròn, mỗi hàng gồm 5 cột. Hai gian trong cùng đặt bệ thờ cao 1.3m, rộng 2.2m x 03m thờ Phật Thích Ca. Ở trung tâm bệ là một pho tượng Phật Thích Ca bằng đá cao khoảng 1,5m được đặt trên bệ cao khoảng 1m. Trên bệ thờ Phật có hai cây cột tròn vẽ hình rồng. Xung quanh tường ngôi chánh điện được vẽ tranh sơn dầu ở hai mặt nói về truyền thuyết Phật Thích Ca từ lúc sinh ra cho đến khi nhập cõi niết bàn. Trần ngôi chánh điện trang trí hoa văn Khmer có độ cao 4m.
Chùa Tầm Vu là một trong những công trình kiến trúc tôn giáo thể hiện đặc trưng vốn văn hoá truyền thống của người Khmer Nam bộ nói chung và Sóc Trăng nói riêng. Ngoài chức năng thỏa mãn nhu cầu đời sống tâm linh, chùa còn đáp ứng được nhu cầu thẩm mỹ của người dân Khmer trong vùng. Ngôi chùa là sự tập hợp toàn vẹn các yếu tố tạo hình kết hợp chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau trong một thể thống nhất. Chùa vừa là trung tâm giáo dục văn hóa của đồng bào Khmer, vừa là điểm sinh hoạt văn hóa cộng đồng của cư dân địa phương.
Trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, đặc biệt là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chùa Tầm Vu vừa là một cơ sở nuôi chứa cách mạng, vừa là một trong những mũi nhọn cho các phong trào đấu tranh của đồng bào Khmer chống lại sự đàn áp của chính quyền tay sai. Chùa cũng là cái nôi nuôi dưỡng và sản sinh ra những chiến sĩ cách mạng kiên trung, suốt đời đấu tranh không mệt mỏi để giải phóng quê hương đất nước như: đồng chí Huỳnh Cương, Trịnh Thới Cang, Lưu Văn Đê, Trương Văn Mạnh (Bảy Hòa), Sáu Châu, Tám Khem, Ba Nhất,…
Trong cuộc đấu tranh gian khổ ác liệt ấy, sư sãi nhà chùa cùng bà con phật tử nơi đây đã đoàn kết một lòng theo Đảng, đùm bọc, che chở, nuôi chứa những cán bộ hoạt động cách mạng và tham gia phong trào kháng chiến với ý chí dũng cảm kiên cường làm cho kẻ thù phải khiếp sợ. Mặc dù kẻ thù luôn có âm mưu đàn áp phong trào cách mạng và tìm mọi cách bắt giữ những chiến sĩ cách mạng, nhưng sư sãi và bà con phật tử vẫn kiên trì đấu tranh, biểu tình chống bắt lính; đồng thời để bảo vệ phum sóc và ngôi chùa, quyết tâm tìm đủ mọi cách để giúp đỡ cách mạng, góp phần làm nên thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Có thể nói, chùa Tầm Vu là một trong những ngôi chùa có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần tạo nên chiến thắng trong công cuộc đấu tranh giành độc lập của quê hương Sóc Trăng. Đồng thời, giáo dục truyền thống cách mạng hào hùng đối với thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.
 Với những giá trị về văn hoá, lịch sử và đặc biệt là công lao đóng góp của Hoà thượng Châu Mum cùng sư sãi và bà con phật tử cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Ngày 29/8/2012 chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng đã có  Quyết định số 372/QĐTC-CTUBND công nhận chùa Tầm Vu là di tích lịch sử cách mạng cấp tỉnh.
Nguyễn Dũng
* Tài liệu tham khảo:
1/ Bản Báo công về thành tích của Hoà thượng Châu Mum trong quá trình trụ trì tại chùa Tầm Vu.
2/ Bút tích, tài liệu ghi chép lại của chùa Tầm Vu.
3/ Đại đức Triệu Ươl - Đại đức trụ trì chùa Tầm Vu.

Thứ Năm, 13 tháng 9, 2012

Thông báo kết luận của Bộ trưởng Hoàng Anh Tuấn tại Hội nghị giao ban trực tuyến toàn quốc về du lịch.



 Ngày 6/9/2012 Bộ VHTTDL đã có văn bản thông báo kết luận của Bộ trưởng Bộ VHTTDL Hoàng Tuấn Anh tại Hội nghị giao ban trực tuyến toàn quốc về du lịch diễn ra ngày 28/8/2012, với 07 vấn đề cơ bản về du lịch như sau:
1. Song song với sự tăng trưởng về số lượng khách du lịch, du lịch Việt Nam cần tập trung hướng tới chất lượng, chiều sâu, tính chuyên nghiệp và hiệu quả:
Các Bộ, ngành chức năng, đặc biệt là Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công Thương, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai đồng bộ, hiệu quả, liên kết, phối hợp thực hiện các nhiệm vụ đã được Thủ tướng Chính phủ giao.
Các tỉnh/thành cần rà soát quy hoạch, định hướng phát triển, tiềm năng, thế mạnh du lịch, tái xác định sản phẩm đặc trưng, nguồn lực, công tác quảng bá xúc tiến, đào tạo nhân lực, khả năng liên kết phát triển, lộ trình thích hợp trên cơ sở Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030, quy hoạch phát triển du lịch vùng.
Tổng cục Du lịch tổng hợp, tập trung nghiên cứu các cơ chế chính sách, đề án thúc đẩy sự phát triển du lịch theo hướng chiều sâu, chuyên nghiệp, tập trung cho chương trình quản lý chất lượng du lịch, làm rõ các ưu tiên, hạn chế.
          2. Về kế hoạch 02 năm xây dựng đủ hệ thống nhà vệ sinh đạt yêu cầu chất lượng phục vụ khách du lịch tại các khu, điểm du lịch, trên các tuyến du lịch:
          Tập trung xoá trắng các khu, điểm du lịch, các tuyến du lịch không có nhà vệ sinh; nâng cấp, hoàn thiện các nhà vệ sinh công cộng tại các khu du lịch lớn, khu, điểm du lịch quốc gia, điểm chốt trên các tuyến du lịch quốc gia.
Các tỉnh/thành xây dựng kế hoạch, cơ chế chính sách, hỗ trợ, hướng dẫn các chủ đầu tư thực hiện việc xây dựng, nâng cấp, hoàn thiện hệ thống nhà vệ sinh công cộng đạt yêu cầu chất lượng phục vụ.
Tổng cục Du lịch định kỳ tổng hợp, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch xây dựng hệ thống nhà vệ sinh đạt yêu cầu chất lượng phục vụ khách du lịch, kịp thời phối hợp tháo gỡ vướng mắc của các địa phương (nếu có) theo thẩm quyền.
3. Khống chế, từng bước đẩy lùi có hiệu quả tình trạng mất an ninh, trật tự tại các khu, điểm, tuyến du lịch:
Các tỉnh/thành tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, có giải pháp khắc phục tính mùa vụ của du lịch, đặc biệt đối với các tỉnh khu vực phía Bắc. Tăng cường sự chỉ đạo liên ngành, nghiên cứu, xây dựng mô hình phù hợp tiến hành ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng mất trật tự, an toàn tại các khu, điểm, tuyến du lịch, xử lý nghiêm các vụ vi phạm.
Các tỉnh/thành tăng cường công tác đảm bảo vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các khu, điểm, tuyến du lịch, đặc biệt trong các ngày nghỉ lễ, mùa du lịch.
Tổng cục Du lịch tổng hợp, báo cáo Bộ trưởng những sáng kiến, mô hình, giải pháp thực hiện hiệu quả trong việc bảo đảm an ninh, an toàn cho du khách để kịp thời tuyên truyền, nhân rộng tại các địa phương.
Thanh tra Bộ chủ động xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra, đồng thời chỉ đạo Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các địa phương thường xuyên kiểm tra, kịp thời phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm các quy định về kinh doanh, các hoạt động du lịch tại các địa phương.
4. Kế hoạch phát triển, nâng cao số lượng và chất lượng đội ngũ hướng dẫn viên, thuyết minh viên du lịch các tỉnh/thành cả nước:
          Đây là điểm mấu chốt góp phần hình thành chất lượng sản phẩm du lịch, là trách nhiệm của cơ quan quản lý, đồng thời là trọng tâm ưu tiên của các doanh nghiệp du lịch.
Các tỉnh/thành, đặc biệt là các địa phương trọng điểm du lịch căn cứ Quy hoạch nhân lực nhóm ngành du lịch đến năm 2020 đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt, xây dựng và triển khai quy hoạch, kế hoạch phát triển nhân lực du lịch của địa phương, tập trung triển khai có lộ trình, phù hợp theo đặc thù, yêu cầu của địa phương, chú ý tính thực tế và liên kết trong đào tạo nhân lực.
5. Kế hoạch nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thống kê du lịch:
Tổng cục Thống kê phối hợp liên ngành trong công tác điều tra, thống kê, đào tạo nhân lực thống kê du lịch.
Tổng cục Du lịch xây dựng chương trình, kế hoạch phối hợp, chế độ thông tin báo cáo định kỳ, đột xuất từ các kênh doanh nghiệp du lịch với Tổng cục Thống kê, phối hợp với Tổng cục Thống kê trong các đợt điều tra có liên quan.
          6. Về nâng cao hiệu quả của Năm Du lịch quốc gia:
Năm Du lịch quốc gia là cơ hội, thời cơ tập trung nâng cao nhận thức về du lịch, tập trung đầu tư nâng cấp sản phẩm du lịch của địa phương, vùng, tăng cường đầu tư hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực, đẩy mạnh quảng bá, xúc tiến du lịch. Đề nghị các địa phương đăng cai Năm Du lịch quốc gia 2014 đến 2017 khẩn trương xây dựng kế hoạch tổng thể, đồng bộ từ hạ tầng, hoạt động để phát huy lợi thế, hiệu quả, tính liên kết, mục tiêu của Năm Du lịch quốc gia.
Tổng cục Du lịch tổng hợp, báo cáo lãnh đạo Bộ việc tổ chức hội nghị chuyên đề nâng cao hiệu quả Năm Du lịch quốc gia với lãnh đạo các tỉnh/thành, Bộ, ngành có liên quan để tập trung nguồn lực cho Năm Du lịch quốc gia.
7. Có cơ chế chính sách thu hút nguồn vốn, đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch:
Vụ Kế hoạch, Tài chính chủ trì, phối hợp với Tổng cục Du lịch, các Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp đề xuất các giải pháp, xây dựng cơ chế chính sách nhằm thu hút các nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng du lịch.
Tổng cục Du lịch chủ trì, phối hợp với Hiệp hội Du lịch Việt Nam tổ chức giao ban 6 tháng/lần nhằm đánh giá hiện trạng và bàn giải pháp tháo gỡ khó khăn, phát triển du lịch.
ND (Nguồn: Tổng cục du lich)


Khai mạc “Hội chợ Thương mại, Du lịch Việt Nam - Lào năm 2012”



 “Hội chợ Thương mại, Du lịch Việt Nam - Lào năm 2012” với chủ đề “Điện Biên và các tỉnh Bắc Lào đoàn kết, hợp tác cùng phát triển” đã khai mạc vào tối ngày 10/9/2012 tại thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.
Đến dự khai mạc có đại diện Sở Văn hóa, Thông tin và Du lịch; Sở Công thương của các tỉnh Phoong Xa Ly, U Đôm Xay, Luong Phrabang, Bo Kẹo, Luông Nậm Thà và Xay Nha Bu Ly của Bắc Lào.
          “Hội chợ Thương mại, Du lịch Việt Nam - Lào năm 2012” là một trong những hoạt động chào mừng “Năm đoàn kết hữu nghị hợp tác Việt - Lào” nhân dịp kỷ niệm 50 năm Ngày thiết lập mối quan hệ ngoại giao (05/9/1962) và 35 năm Ngày ký hiệp ước hữu nghị hợp tác Việt - Lào (18/7/1977). Tham gia hội chợ có trên 125 doanh nghiệp trong và ngoài nước với gần 300 gian hàng, trưng bày và bán các sản phẩm: điện, điện tử, công nghệ thông tin, đồ gia dụng, hóa mỹ phẩm, da giày, may mặc, các mặc hàng tiêu dùng thiết yếu,… Ngoài ra, tại hội chợ lần này, còn có sự góp mặt của các gian hàng giới thiệu một số sản phẩm đặc trưng của 02 dân tộc Việt Nam và Lào. Đây không chỉ là nơi trưng bày, giới thiệu sản phẩm và tham quan mua sắm mà còn là cơ hội để các doanh nghiệp 02 nước Việt Nam – Lào tìm kiếm cơ hội hợp tác, mở rộng đầu tư và thị trường tiêu thụ sản phẩm.
            Phát biểu tại khai mạc Hội chợ, đồng chí Lê Thành Đô, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh xác định “Điện Biên là tỉnh duy nhất trong nước có đường biên giới với nước bạn Lào và Trung Quốc. Điện Biên có nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng; có cửa khẩu quốc tế với Lào, có lối mở biên giới với Trung Quốc; tỉnh cũng có cảng hàng không nội địa, quần thể di tích chiến thắng Điện Biên Phủ,… là những lợi thế để phát triển thương mại, du lịch với các tỉnh Bắc Lào, Đông Bắc Myanmar và Tây Nam Trung Quốc.
          “Hội chợ Thương mại, Du lịch Việt Nam - Lào năm 2012” có ý nghĩa rất quan trọng; nhằm giới thiệu tiềm năng, lợi thế phát triển kinh tế - văn hóa - du lịch của tỉnh Điện Biên và các tỉnh Bắc Lào; đẩy mạnh hợp tác đầu tư, mở ra triển vọng tốt đẹp nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của 02 bên; góp phần tô thắm mối quan hệ hữu nghị truyền thống, tình đoàn kết đặc biệt giữa 02 Đảng, nhà nước và nhân dân 02 nước Việt Nam - Lào. Hội chợ sẽ diễn ra hết ngày 18/9/2012./.
ND(nguồn: Tổng cục Du lịch)

Thứ Năm, 30 tháng 8, 2012

Tiếp và làm việc với đoàn làm phim HTV7 V/v quảng bá tiềm năng Du lịch Sóc Trăng



Ngày 23–24/8/2012, Ông Trịnh Công Lý, Giám đốc Trung tâm TTXTDL đã có buổi tiếp và làm việc cùng với nhóm biên tập viên chương trình Năng động Du lịch Việt trên kênh HTV7 do bà Nguyễn Kim Ngân làm trưởng nhóm. Cùng tham dự cuộc trao đổi còn có bà Lý Thị Phương – Trưởng phòng TTXTDL và một số cán bộ chuyên viên của Trung tâm.
Bà Nguyễn Kim Ngân, đại diện nhóm phóng viên, biên tập chương trình đã trình bày yêu cầu của đoàn về việc thực hiện một số tin, bài, phóng sự quảng bá tiềm năng du lịch Sóc Trăng qua các sự kiện như:
- Sóc Trăng tổ chức ngày hội Văn hóa – Thể thao ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch lần thứ VI năm 2012.
- Sóc Trăng kêu gọi đầu tư dự án Khu du lịch sinh thái rừng bần ngập mặn ven biển thuộc xã An Thạnh Nam, huyện Cù Lao Dung.
- Tài nguyên du lịch Sóc Trăng đang dần được khai thác đầu tư.
- Nâng cao hơn nữa chất lượng công tác xúc tiến quảng bá du lịch Sóc Trăng từ nay đến 2015.
- Sóc Trăng xây dựng khu lâm viên giữa lòng thành phố.
Lãnh đạo và cán bộ Trung tâm TTXTDL đã hỗ trợ Đoàn trong quá trình chuẩn bị và thực hiện các bản tin, phóng sự như cung cấp tài liệu, kế hoạch công tác xúc tiến quảng bá du lịch trong những giai đoạn tiếp theo; giới thiệu về các lễ hội văn hóa, phong tục tập quán của đồng bào dân tộc Khmer tại Sóc Trăng; liên hệ với đơn vị quản lý dự án các khu du lịch của tỉnh,…
Khi phóng sự tài liệu này được phát sóng sẽ góp phần quảng bá hình ảnh, điểm đến và tiềm năng du lịch của địa phương; thu hút ngày càng nhiều du khách trong và ngoài nước đến Sóc Trăng./.

Nguyễn Dũng

Hợp tác du lịch Việt Nam – Lào


         
Trong những năm qua, việc hợp tác du lịch Việt Nam – Lào đã có những bước phát triển vượt bậc thông qua các chương trình du lịch liên kết giữa hai nước với các quốc gia trên hành lang Kinh tế Đông Tây. Nguồn khách du lịch từ Việt Nam sang Lào và ngược lại đang ngày càng tăng lên bởi sự thu hút của những cảnh quan thiên nhiên quyến rũ, hoang sơ và văn hóa bản địa đặc sắc của cả hai quốc gia.
Quan hệ hợp tác du lịch giữa hai nước Việt Nam – Lào chính thức được thiết lập cách đây 21 năm đánh dấu bằng việc ký Hiệp định hợp tác du lịch song phương 1991. Cơ quan du lịch quốc gia hai nước thường xuyên trao đổi kinh nghiệm về xây dựng văn bản pháp luật, đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch, liên kết phát triển sản phẩm và quảng bá du lịch. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam mở chi nhánh và văn phòng đại diện du lịch tại Lào. Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại giữa hai quốc gia, Chính phủ hai nước đã miễn thị thực song phương cho công dân Việt Nam và Lào mang hộ chiếu phổ thông khi đi du lịch từ ngày 01/7/2004; thỏa thuận về việc tạo điều kiện thuận lợi cho người, phương tiện, hàng hóa qua lại biên giới nhằm đẩy mạnh hơn nữa việc khuyến khích hợp tác đầu tư, thương mại giữa hai nước từ ngày 14/9/2007.
Từ năm 2005, ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia liên tục kết hợp tổ chức quảng bá tại hội chợ du lịch quốc tế thành phố Hồ Chí Minh (ITE HCM). Theo thống kê năm 2011, trao đổi khách du lịch giữa hai nước đạt trên 680.081 lượt, trong đó khách du lịch Việt Nam đến Lào đạt 561.586 lượt khách và khách du lịch Lào đến Việt Nam đạt 118.495 lượt. Bên cạnh hợp tác du lịch song phương, hai quốc gia còn hợp tác chặt chẽ trong các tổ chức, diễn đàn khu vực như ASEAN, GMS (Greater Mekong Subregion – Tổ chức các nước thuộc tiểu vùng sông Mekong mở rộng).
Đặt biệt, năm 2012, Chính phủ đã chọn làm năm “Đoàn kết hữu nghị Việt Nam – Lào” nhân dịp kỷ niệm 50 năm Ngày thiết lập mối quan hệ ngoại giao (05/9/1962) và 35 năm Ngày ký hiệp ước hữu nghị hợp tác Việt – Lào (18/7/1977). Từ đó, sẽ góp phần vào việc cũng cố và tăng cường mối quan hệ hòa bình, hữu nghị và hợp tác kinh tế về mọi mặt giữa hai quốc gia.
Việt Nam – Lào có cơ hội rất tốt để khai thác vị trí địa lý, tiềm năng và lợi thế của mình nhằm bổ sung cho nhau cùng phát triển. Việt Nam với thế mạnh về kinh tế và vận tải biển, có thể phát huy vai trò là cửa ngõ ngắn nhất ra biển tạo điều kiện cho Lào giao thương với các nước khu vực và quốc tế. Tương tự như vậy, với vị trí là trạm trung chuyển trong Tiểu vùng sông Mekong mở rộng, có lợi về vận tải và thương mại, Lào có thể giúp Việt Nam mở rộng thị thường vào nội địa Đông Nam Á, Châu Á.
Với những điều kiện rất thuận lợi, nỗ lực và quyết tâm của ngành Du lịch hai nước, tin tưởng rằng sự hợp tác du lịch giữa hai nước sẽ ngày càng phát triển, góp phần tích cực vào việc tăng cường hiểu biết lẫn nhau, vun đắp tình hữu nghị, hợp tác phát triển giữa Chính phủ và nhân dân hai nước./. 

ND-Biên tập từ(http//:www.vietnamtourism.gov.vn)

Phục vụ nhạc dân tộc tại điểm tham quan chùa Dơi Sóc Trăng



         
Đến tham quan Chùa Dơi tại Tp.Sóc Trăng, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng lối kiến trúc độc đáo của chùa, quan sát của hàng nghìn con Dơi quạ treo mình trên các tán cây cổ thụ, mà còn được lắng nghe những âm thanh vui tươi, rộn rã, sôi nổi của dàn nhạc Ngũ âm hay du dương, trầm bổng, sâu lắng của dàn Nhạc cổ. Chùa Dơi là một trong số ít ngôi chùa tại Sóc Trăng còn lưu giữ trọn vẹn 02 dàn nhạc dân tộc truyền thống của người Khmer là Pin Piết (Ngũ âm) và Kh’sear (Nhạc dây). Đây là 02 bộ nhạc cụ quý báu, là biểu tượng của sự vui tươi, sung túc, ấm no,…thể hiện nét đẹp văn hóa, giàu tính nghệ thuật truyền thống.
          Mỗi bộ nhạc cụ được phân thành nhiều bộ phận với từng tên gọi, chức năng khác nhau và được thiết kế rất tinh xảo mà khi sử dụng không thể tách rời ra từng nhạc cụ vì như vậy sẽ làm mất đi sự phối âm hoàn chỉnh của nó. Tuy nhiên, có một điểm đặc biệt là khi hòa tấu thì một số nhạc cụ trong 02 dàn nhạc này vẫn có thể kết hợp với nhau tạo thành những âm thanh rất hấp dẫn.
          Dàn nhạc Pin Piết (Ngũ âm) có 07 nhạc cụ gồm: 02 dàn cồng Cuông-tuôch và Cuông-thôm (chất liệu đồng), Rôniêt-ek và Rô-neat-thung (chất liệu gỗ), Rô-niêt-dek (chất liệu sắt), 02 trống Sampo được bịt bằng da bò và cuối cùng là kèn Srôlay pin piết được làm bằng tre hoặc gỗ quý. Đối với dàn nhạc Kh’sear (Nhạc dây) gồm có: Truô sô (đàn Cò), Truô nguôk (đàn Gáo), Skôr (Trống), Khưm tuôch (đàn bán Nguyệt nhỏ), Khưm thum (đàn bán Nguyệt lớn), Ch’hưng (Chập chã) và cùng một số nhạc cụ khác.
          Đặc biệt, ở các nghệ nhân là họ có thể sử dụng 02 bộ nhạc để hòa tấu theo các bản nhạc của người Kinh, Khmer, Hoa và kể cả một số bài nhạc quốc tế. Theo quy định của chùa thì dàn nhạc Pin Piết (Ngũ âm) và Kh’sear (Nhạc dây) chỉ được sử dụng vào những dịp lễ hội. Ngày nay do nhu cầu phục vụ du khách nhà chùa đã mở rộng phạm vi sử dụng hơn. Du khách có thể đến chùa vào các ngày thứ bảy, chủ nhật hàng tuần và ngày 15, 30 âl hàng tháng, để trực tiếp thưởng thức phần biểu diễn âm nhạc và tìm hiểu thêm về 02 bộ nhạc cụ độc đáo này./.
Nguyễn Dũng